Đức Phật trong cái nhìn của các nhà khoa học

ĐỨC PHẬT TRONG CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC

 

 

GIÁC ĐẲNG (sưu tầm & chuyển ngữ)

 

 

“Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó”. [Albert Einstein]

 

 

 

1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật

 

Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của Đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến. [Giáo sư Max Miller, Học giả người Ðức]

 

Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ nơi Đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo được thấy trên môi Đức Phật kể cả trong lúc tình cờ. [- Tiến Sĩ S. Radhakrishnan]

 

Ðiều đáng chú ý nhất nơi Đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất của một đầu óc khoa học trầm tĩnh và thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về Đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại. [Moni Bagghee, "Ðức Phật Của Chúng Ta"]

 

Các bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy: là do lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba dạng: – Một là tham vọng thỏa mãn cảm giác; – Hai là tham vọng muốn bất tử; – Ba là tham vọng thành công và trần tục. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình. Rồi con người đó mới trở thành một bậc đại nhân. Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm trăm năm trước Chúa Christ, đã dạy con người đức tính vị tha. Trong một số chiều hướng Ngài rất gần gũi với chúng ta hơn, và đáp ứng được nhu cầu của chúng ta. Ðức Phật cũng tỏ ra sáng suốt hơn Chúa Christ trong sự quan tâm phục vụ con người và ít mơ hồ đối với vấn đề trường tồn bất tử của kiếp nhân sinh. [- H.G. Wells]

 

Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là Ðường lối, là Chân lý và là Lẽ sống. [- Giám mục Milman]

 

 

2. Trí tuệ siêu việt của Đức Phật

 

Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống của mình trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thánh thần nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không xâm nhập trong đời sống của Ngài được. [- Giáo Sư Eliot, "Phật giáo và Ấn Ðộ giáo"]

 

Ðức Phật không chỉ nhận thức được sự thực tối cao, Ngài còn biểu lộ kiến thức cao cả của Ngài, kiến thức cao hơn tất cả kiến thức của các “Thần linh và Người”. Kiến thức của Ngài rất rõ ràng và độc lập không liên can gì đến thần thoại và hoang đường. Tuy nhiên, nơi đây lại còn cho thấy một hình thức vững vàng, tự nó biểu lộ được một cách rõ ràng và hiển nhiên để cho con người có thể theo Ngài. Vì lý do đó, Đức Phật không đòi hỏi phải tin nhưng hứa hẹn kiến thức. [- George Grimm, "Giáo Lý của Đức Phật"]

 

Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sanh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sanh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong sự thuyết giảng của Ngài, đấng Vô Thượng Sư có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ. [Giáo Sư Rhys Dadis]

 

Ðức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát lấy mình, như chính Ngài đã tự giải thoát lấy Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình. [- Tiến Sĩ Oldenburg, Một học giả Ðức]

 

Dường như người thanh niên bất diệt, hiền lành, ngồi khoanh chân trên hoa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như khuyên nhủ như trả lời: “Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi”. [Anatole France]

 

Sự khác biệt giữa Đức Phật và một người bình thường giống như sự khác biệt giữa một người bình thường và một người mất trí. [- Một Văn Hào]

 

Nếu chúng ta hỏi, chẳng hạn, có phải vị trí một hạt nhân điện tử lúc nào cũng giữ nguyên không thay đổi, chúng ta phải trả lời “không”; nếu chúng ta hỏi có phải vị trí của một hạt nhân điện tử thay đổi theo thời gian, chúng ta phải trả lời “không”; nếu chúng ta hỏi có phải hạt nhân đó đang di động, chúng ta phải trả lời “không”. Ðức Phật cũng đã giải đáp như vậy khi có người hỏi tình trạng bản ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời như trên không phải là những câu trả lời quen thuộc theo truyền thống khoa học ở thế kỷ 17 và 18. [J.Robert Oppenheimer]

 

Nếu một vấn đề nào đó cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của Đức Phật. [- Tổng thống Nehru]

 

 

3. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại

 

Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông điệp của Đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông điệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp). [Tổng thống Nehru]

 

Trên quả địa cầu này, Ngài đem ý nghĩa những chân lý giá trị trường cửu và thúc đẩy đạo đức tiến bộ không chỉ cho riêng Ấn độ mà cho cả nhân loại. Ðức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài chưa từng thấy có trên hoàn vũ. [Albert Schweizer, một nhà lãnh đạo triết học Tây Phương]

 

Sự thanh tịnh của tâm linh và lòng thương yêu tất cả sinh vật đã được dạy dỗ bởi Đức Phật. Ngài không nói đến tội lỗi mà chỉ nói đến vô minh và điên cuồng có thể chữa khỏi bởi giác ngộ và lòng thiện cảm. [- Tiến Sĩ Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"]

 

Ðức Phật không phải là của riêng người Phật tử, Ngài là của toàn thể nhân loại. Giáo lý của Ngài thông dụng cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo khai sáng sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều các tư tưởng hay của Ngài. [- Một học giả Hồi Giáo]

 

Khi chúng ta đọc những bài thuyết giảng của Đức Phật, chúng ta cảm kích bởi tinh thần hợp lý của Ngài. Con đường đạo đức của Ngài ngay trong quan điểm đầu tiên là một quan điểm thuần lý. Ngài cố gắng quét sạch tất cả những màng nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại. [Tiến Sĩ S.Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"]

 

Ðức Phật là người cha nhìn thấy đàn con đang vui chơi trong ngọn lửa thế tục nguy hiểm, Ngài dùng mọi phương tiện để cứu các con ra khỏi ngôi nhà lửa và hướng dẫn chúng đến nơi an lạc của Niết bàn. [- Giáo sư Lakshimi Narasu, "Tinh Hoa Của Phật giáo"]

 

 

4. Giáo pháp của Đức Phật

 

Ðọc một chút về Phật giáo là đã biết rằng hai ngàn năm trăm trước đây, người Phật tử đã hiểu rõ xa hơn và đã được thừa nhận về những vấn đề tâm lý hiện đại của chúng ta. Họ đã nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và đã tìm thấy câu trả lời. [- Tiến Sĩ Graham Howe]

 

Phật giáo chưa bao giờ ép ai theo dù dưới hình thức nào – hoặc ép buộc ý tưởng và niềm tin đối với người không thích, hoặc bằng bất cứ một sự tâng bốc nào, bằng lừa gạt hay ve vãn, hầu đoạt được thắng lợi để gia nhập vào quan điểm riêng tư của mình. Những nhà truyền giáo của đạo Phật không bao giờ thi đua để dành người quy nạp vào Ðạo như nơi chợ búa. [- Tiến sĩ G. P. Malasekara]

 

Chỉ nói về Phật giáo thôi, ta có thể xác nhận là tôn giáo này thoát khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo nhằm tạo trong mỗi cá nhân một sự chuyển hóa nội tâm bằng cách tự chiến thắng lấy mình. Nhờ đến sức mạnh và tiền bạc hay cả đến sự chinh phục để tác động mọi người vào đạo thì sao? Ðức Phật chỉ rõ một con đường giải thoát duy nhất để cho cá nhân tự quyết định nếu muốn theo tôn giáo này. [- Giáo Sư Lakshmi Nasaru, "Tinh Hoa của Phật giáo"]

 

Không thể cho rằng Phật giáo bị suy yếu, ngay hiện tại, vì Phật giáo bắt nguồn trên những nguyên tắc cố định chưa bao giờ bị sửa đổi. [- Gertrude Garatt]

 

Mặc dù người ta có thể được thu hút từ nguyên thủy bởi sự khoáng đạt của tôn giáo này nhưng người ta chỉ có thể tán dương giá trị thực sự của Phật giáo khi người ta phán xét kết quả tạo ra của tôn giáo này thông qua đời sống của chính mình từ ngày này qua ngày khác. [- Tiến Sĩ Edward Conze, Một học Giả Phật giáo Tây Phương]

 

Phật giáo là một tôn giáo tự giác, ít lễ nghi. Một hành động được thực thi với chính sự suy tư thì tự nó đã điều kiện hóa để không còn là một nghi lễ. Phật giáo nhìn bề ngoài có vẻ nhiều nghi lễ nhưng thực ra không phải như vậy. [- Tiến sĩ W.F.Jayasuriya, "Tâm lý và Triết lý Phật giáo"]

 

Là Phật tử hay không phải là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt, Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của Đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó. [Giáo sư Rhys Davids]

 

Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh nhân loại vẫn còn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương và cảm hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của Ðức Cồ Ðàm được phục hưng và thuần khiết, có thể chiếm một vị trí phần lớn trong hướng đi của vận mệnh nhân loại. [- H.G.Well]

 

Lý thuyết của Phật pháp vẫn đứng vững ngày nay không bị ảnh hưởng bởi tiến trình của thời gian và sự tăng trưởng kiến thức, vẫn giữ nguyên như lúc ban đầu bầy tỏ. Dù cho kiến thức khoa học tăng tiến đến thế nào trên chân trời trí óc của con người, trong phạm vi Giáo pháp (Dhamma) cũng vẫn có chỗ để thừa nhận và đồng hóa các khám phá xa hơn nữa. Về phương diện thu hút của lý thuyết nầy không dựa vào các khái niệm giới hạn của các tư tưởng sơ khai, về phương diện khả năng cũng không bị lệ thuộc vào những phủ định của tư tưởng. [- Francis Story, "Phật giáo, Một Tôn Giáo Thế Giới"]

 

Phật giáo là một phương thức làm sao để đạt được lợi lạc cao nhất từ cuộc sống. Phật giáo là một tôn giáo của trí tuệ mà ở đấy kiến thức và thông minh chiếm ưu thế. Ðức Phật không thuyết giảng để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe. [- Một Văn Hào Tây Phương"]

 

“Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học”…. “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó”.

Nguồn:Hội những người đơn giản là có một niềm tin bất diệt vào Phật Pháp

7 bước tu tập tâm

Tình yêu không giới hạn Nếu “yêu” là một việc rất dể thì sẻ không làm mê hoặc bao nhiêu người. Bởi vì yêu là một khát vọng hiền dịu và nóng bỏng nhất từ trong sâu kín của con tim. Nhưng mà “yêu” nên vựợt qua tình yêu bản ngã nho nhỏ và đồng thời cũng yêu cả những người cho là thù địch, vì thế cần phải có trí tuệ và phương pháp.

Vì sao phải tu tâm?

Tìm cầu quá nhiều dục vọng bên ngoài, tham sân si quá độ, những thứ này không thể mang đến thỏa mãn cho tâm hồn.

Chỉ có nhận ra tận gốc những khuyết điểm của tham sân si mang lại, đồng thời hiểu rỏ tình thương và từ bi thì mới có thể mang đến thanh thản chân thật cho tâm hồn.

Bản tính con người vốn trong sáng

Bản tính của tâm là trong sáng thanh tịnh, bởi vậy rất nhiều vấn đề bực bội khó chịu trong lòng không phải là bản chất của tâm. Những trạng thái tâm hồn không tốt là chỉ nhất thời, là biểu hiện bên ngoài, nên chúng ta có thể tịnh hóa và lọai bỏ.

Cho dù nuớc có dơ đến mức nào, thì bản chất của nuớc cũng không bị những chất dơ đó làm cho ô nhiễm. Cùng luân lý đó, tâm dù có phiền não, bản chất của tâm cũng không bị trần cấu làm cho ô nhiễm.

Hiểu tận gốc vì sao chúng ta thường bị tham sân si?

Nguyên nhân chính là các ham muốn bị trắc trở, chúng ta thiếu đi thái độ chính xác để đối diện vấn đề, cảm thấy mình là người bị hại và đối phương là kẻ thù.

Vấn đề tại tâm

Hoàn cảnh bên ngoài không phải là nguyên nhân chính làm cho chúng ta rơi vào đau khổ, mà là do những tạp nhiễm của tâm.

Làm thế nào để thay đổi? Bồi dưỡng năng lực quán sát chính mình.

Mình tự làm người quan sát, quán sát hành vi và tư tưởng của chính mình, thì có thể hiểu được thế nào là “ bình thường tâm”, không có liên quan gì đến thích hoặc không thích, muốn hay không muốn.

Nhưng, dù thế nào cũng không nên để rơi vào những tình cảnh không tốt, thì tự nhiên tâm sẽ hiện ra bản chất thuần tịnh vốn có của nó.

Tu tâm như thế nào?

Bạn thử xem, khi tỉnh dậy lúc sáng sớm còn nằm trên giường, hãy quán chiếu tâm tính và tập luyện tâm tính giữ được trạng thái bình tỉnh.

Thực tập qua những bước tu tập như sau:

Không nghĩ đến những việc phát sanh ở quá khứ và tương lai

Hãy để cho tâm tự nhiên hoạt động, không suy nghĩ.

Quán chiếu tự tâm trong sáng thuần tịnh

Giữ vững trạng thái này trong một khỏang thời gian.

Giai đọan 1: thực hiện tâm bình đẳng

Thực hiện bình đẳng tâm tức là cố gắng có thái độ tốt đối với tất cả mọi người

Lúc mới bắt đầu có thể là số ít người, rồi dấn dần lan rộng đến nhiều người

Không có quan niệm về tâm bình đẳng, thì tình thương và từ bi cũng bị lệch lạc và không có khả năng phát huy.

 

Giai đoạn 2: tự trong thâm tâm phải biết cảm ơn người khác

Nhớ về những người thân, bạn bè đối xử tốt với chúng ta, đặc biệt là thời thơ ấu, lúc đó chúng ta luôn nhờ người khác chăm sóc cho mình, nhớ về những ân huệ tiếp nhận trứơc đây, đồng thời cảm ơn sự bố thí tình thương hay công sức của cải của người khác, kỳ thật người khác không chờ mong sự báo ơn của bạn.

Nếu cuộc sống của bạn quá thuận lợi bạn sẹ trở nên nhu nhược, những khó khăn sẽ phát sanh sức mạnh nội tâm của bạn, làm cho bạn có dũng khí đối diện trắc trở. Ai là người làm cho chúng ta có những điểm như vậy? Chắc chắn không phải là bạn thân mà là kẻ thù.

 

Giai đoạn 3: giúp cho người khác vui

Mang niềm vui đến cho người khác, phát huy tinh thấn vô úy, cho dù khó khăn bao nhiêu cũng cố gắng giúp người khác được vui, và cuối cùng có thể chứng ngộ.

 

Giai đọan thứ 4: nhận thức khổ đau, học yêu thương người khác

Vứt bỏ tư duy bạn, tôi, anh ấy ;và cũng bỏ đi thái độ lấy mình làm trung tâm.

“Lúc một mũi tên bắn đến, không có thời gian để hỏi tên này do ai bắn, hoặc bắn loại tên như thế nào”. Mà là dùng cùng một sự yêu thương đối đãi với tất cả mọi người.

Họ đều là người, đều đang chịu khổ. Họ và chúng ta đều giống nhau có quyền để hưởng được niềm vui.

Nhìn thấu bản chất của sanh mệnh

Lúc chúng ta không hiểu được bản chất của sanh mệnh, dể mang đến những phiền não, hoặc trạng thái vô minh?

Mọi chuyện đều vô thường nên phải sống trong hiện tại.

Do nhân duyên khởi và cũng do nhân duyên diệt cho nên không chấp trước.

May mắn không phải là vĩnh cửu nên phải biết tạo phước và biết đủ.

Chỉ có nhìn bản chất của thế sự hoại diệt trong từng thời khắc, có như thế thì lúc nó biến hóa ta không cò gì là trở tay không kịp, và đối diện với cái chết cũng không có gì là hoảng hốt lo sợ.

Chúng ta có thể chết bất cứ lúc nào, sanh mạng là vô thường, cho dù chúng ta có thành công bao nhiêu, tiền bạc có nhiều cũng không thể sống mãi. Lúc cái chết đến chúng ta phải xả bỏ mọi thứ. Đúng về phương diện này thì cái chết của người có nhiều tiền và cái chết của cầm thú cò gì đâu khác biệt.

Lúc chúng ta có được hạnh phúc thì nên chia cho người khác một phần như vậy sẽ làm cho cuộc sống càng thêm có ý nghĩa.

 

Giai đoạn thứ 5: lấy tình yêu làm gốc, phát triễn lòng từ bi

Bất luận là giàu hay nghèo, giàu hay trẻ, mạnh hay yếu đều lấy lương thiện và từ bi mà đối đãi, hy vọng mọi người sớm có được niềm vui.

Làm thế nào để phát hy lòng từ bi?

Xây dựng mối tình cảm thân thương với mọi người hoặc thấu cảm với nỗi khổ của người khác.

Học tâp làm thế nào chế ngự cơn giận ( suy nghĩ xem giá trị và lợi ích của giận hờn là gì, và giá trị lợi ích của từ bi là gì? )

Cố gắng vận dụng kiến thức thường nhật xem nổi giận có tác dụng gì?

Những cơn giận không có giúp ích gì cho đôi bên cả, nỗi giận chỉ làm tổn thương người khác, và tổn thương chính mình mà thôi.

 

Giai đoạn 6: toàn tâm toàn lực độ mình độ người.

Khi mà từ trong sâu thẳm của cõi lòng bạn xuất hiện tình thương, hy vọng tất cả mọi người cùng nhau hưởng đuợc niềm vui chân thật và lâu dài, đó là tình yêu rộng khắp.

Cảm giác như từ bi tự nhiên xuất hiện, mong muốn vì mọi người dứt trừ tất cả khổ đau. Đó là lòng từ của bạn đạt đến viên mãn, gọi là đại từ đại bi.

 

Giai đoạn 7: mong cầu chứng ngộ lợi tha

Mục đích cuối cùng là giúp đở tất cả mọi người.

Trước hết chúng ta nên hiểu bản tính và định hướng của họ, đồng thời phải có đủ tri thức tình yêu theo phương pháp tu hành.

Hướng dẫn họ, vì sao phải tu tập tình thương của tu hành,và bắt đầu từ hiện tại nên lọai bỏ đi những hành vi nào? Tập luyện, hướng dẫn các hành vi của thân khẩu ý sao cho mỗi ngày thêm nhiều lợi ích đó là phát triễn tình yêu sâu xa và tình cảm chân thật nhất.

Như vậy là đã định vị mối quan hệ mới của mình và người khác, đồng thời cũng là làm cho sanh mạng có thêm nhiều ý nghĩa mới.

Nguồn:Hội những người đơn giản là có một niềm tin bất diệt vào Phật Pháp

Tại sao phải niệm A Di Đà Phật ?

Kính thưa chư vị đồng học,

 

Hôm qua chúng tôi từ ‘Tuyết Lê’ (New South Wales) về đây và đã nghỉ ngơi hết suốt ngày hôm nay. Tối nay, chúng ta và các bạn đồng học hãy cùng nhau thảo luận một số vấn đề trong sự tu học Phật pháp. Hơn một nửa những vấn đề này đều thuộc về vấn đề của những người mới học Phật, nhưng ngay cả những người tu học lâu rồi cũng ít để ý tới, đây là điều mà người ta nói là ‘tập nhi bất sát’ ( “thực hành nhưng không suy xét”). Ðợi đến lúc có người hỏi, có rất nhiều người trong chúng ta không biết trả lời như thế nào. Học viện của chúng ta có tên là ‘Tịnh Tông Học Viện’, từ cái tên có thể hiểu được ý nghĩa của nó; chúng ta [ở học viện này] chuyên tu Tịnh Ðộ, Tịnh Ðộ còn được kêu bằng Tịnh Nghiệp, chuyên tu Tịnh Nghiệp. Nếu có người hỏi bạn rằng: “Chư Phật trong thập phương quá nhiều quá nhiều, tại sao quý vị lại niệm A Di Ðà Phật? Tại sao lại chuyên niệm A Di Ðà Phật mà không niệm đức Phật khác?”

Tôi hỏi các bạn, người nào trong quý vị có thể trả lời câu hỏi này: Chư Phật trong thập phương quá nhiều quá nhiều, tại sao quý vị lại chuyên niệm A Di Ðà Phật? Tại sao quý vị lại không niệm thập phương chư Phật? Có ai trả lời được không?

Câu trả lời đơn giản nhất là y chiếu theo kinh điển, trong kinh Di Ðà có nói rằng đức Phật Thích Ca đã bốn lần khuyên chúng ta nên niệm Phật A Di Ðà, kinh Di Ðà có thể chứng minh cho lời nói này. Ðức Phật dạy chúng ta niệm A Di Ðà Phật, chúng ta nghe theo lời dạy của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật mà niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ. Ðây là câu trả lời dễ hiểu và đơn giản nhất. Nhưng [nói như vậy] không làm thoả mãn sự thắc mắc của người hỏi; ‘Tại sao đức Phật Thích Ca lại khuyên chúng ta niệm A Di Ðà Phật?’. Không những là đức Phật Thích Ca, mà như trong kinh Vô Lượng Thọ và kinh A Di Ðà có nói rằng tất cả chư Phật Như Lai đều khuyên người niệm A Di Ðà Phật, như vậy nghĩa là thế nào?

Nếu bạn hiểu rõ chân tướng của vũ trụ (vũ trụ là danh từ mà xã hội đại chúng thường dùng, trong Phật pháp dùng danh từ ‘pháp giới’) và nhân sanh, thì bạn sẽ hiểu tại sao tất cả chư Phật đều khuyên chúng ta niệm A Di Ðà Phật. Cho nên câu hỏi này là một câu hỏi rất quan trọng, không phải là một vấn đề nhỏ! Chư vị có đọc qua trong kinh điển Ðại thừa, hình như là ở trong bài ‘Khóa tụng sáng tối’, trong 88 vị Phật có ‘Pháp Giới Tạng Thân A Di Ðà Phật’. Như thế thì ý nghĩa này đã rõ ràng, A Di Ðà Phật là bổn danh (tên chung, tên gốc) của tất cả pháp giới chư Phật! Danh hiệu của [từng vị trong] tất cả pháp giới chư Phật là biệt hiệu của họ, A Di Ðà Phật là bổn danh của họ, cho nên gọi là ‘Pháp Giới Tạng Thân’. Tại sao lại nói ‘A Di Ðà Phật là tên chung của tất cả chư Phật’?

Danh hiệu này là từ tiếng Phạn dịch âm mà ra, dịch nghĩa là ‘Vô Lượng’. Chữ ‘A’ dịch là ‘Vô’, chữ Di Ðà dịch là ‘Lượng’, chữ Phật dịch là ‘Trí’ hay ‘Giác’. Quý vị thử nghĩ xem có đức Phật nào mà không là ‘Vô Lượng Trí’ và ‘Vô Lượng Giác’? Ðây là bổn danh (tên chung) của Phật, rất tương tợ với tên của đức Phật ‘Tỳ Lô Giá Na’ nhưng không giống nhau. Tỳ Lô Giá Na cũng là bổn danh (tên chung) của tất cả chư Phật; ý nghĩa của tên này là Biến Nhất Thiết Xứ (Biến Khắp Mọi Nơi); A Di Ðà là dùng vô lượng trí biến khắp mọi nơi, vô lượng giác biến khắp mọi nơi; quý vị đem hai ý nghĩa này hợp lại thì vô cùng rõ ràng. Chúng ta phải hiểu rõ hàm ý chân chánh của danh hiệu Phật; vì thế cho nên tất cả chư Phật đều khuyên chúng ta niệm A Di Ðà Phật.

A Di Ðà Phật cũng là tên chung của tự tánh chúng ta. Trong kinh điển Ðại thừa đức Phật thường nói rằng tất cả hữu tình chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả vô tình chúng sanh đều có Pháp tánh (chữ ‘vô tình’ là chỉ thực vật và khoáng vật). Phật tánh và Pháp tánh là chỉ chung một tánh chứ không phải hai thứ tánh, đây đều là tên chung của ‘tánh đức’. Trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm đức Thế Tôn nói với chúng ta “Tất cả chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai’; tất cả chúng sanh bao gồm chúng ta. Chúng ta vốn là Phật, mỗi người vốn là Phật, vốn là A Di Ðà, vốn là Tỳ Lô Giá Na. Nói cho quý vị biết bây giờ vẫn là (A Di Ðà Phật)! Không phải trong kinh quý vị thường thấy đến chữ ‘Tự tánh Di Ðà’ hay sao, như vậy mỗi người trong chúng ta đều có ‘Tự tánh Di Ðà’! Tại sao vậy? Chúng ta mỗi người vốn có vô lượng trí, vốn có vô lượng giác. Trí giác này vốn là ‘biến khắp mọi nơi’.

Cho nên trong kinh Hoa Nghiêm và kinh Viên Giác có nói ‘Tất cả chúng sanh vốn thành Phật’. Nhưng đức Phật không thường nói điều này; tại sao vậy? Tại vì sợ người nghe không hiểu và còn có thể sanh ra sự hiểu lầm. Ðức Phật rất ít nói như vậy, nhưng đó là sự thật. Hiện giờ tại sao lại biến thành phàm phu? Tại vì đã bạn mê. Mê rồi thì thế nào? Mê rồi thì bạn biến thành ngu si, bạn không có trí huệ, không còn giác nữa. Tự tánh mê rồi, tự tánh A Di Ðà mê rồi, tự tánh Tỳ Lô Giá Na mê rồi, sự việc là như thế đó. Mê rồi thì làm phàm phu. Cảnh giới giác ngộ là cảnh giới của Phật, cảnh giới của giác ngộ là Cực Lạc thế giới, là Hoa Tạng thế giới. Mê rồi đem Cực Lạc thế giới và Hoa Tạng thế giới biến thành thế gian ngũ trược ác khổ của chúng ta hiện nay; sự việc là như thế đó.

Bây giờ đức Thế tôn dạy chúng ta niệm A Di Ðà Phật, tất cả chư Phật dạy chúng ta niệm A Di Ðà Phật, đây là ý nghĩa gì? Là dạy cho chúng ta dùng phương pháp này để khôi phục lại tự tánh! Cũng như chúng ta đang ngủ, đang mê hoặc điên đảo, câu A Di Ðà Phật này đánh thức chúng ta tỉnh dậy. Sau khi tỉnh dậy mới biết mình vốn là A Di Ðà, mình vốn là Tỳ Lô Giá Na. Nhưng chúng ta đã mê quá lâu, mê quá sâu đậm rồi, mỗi ngày đều niệm nhưng kêu hoài không tỉnh. Phải làm sao đây? Chư Phật Như Lai đã giác ngộ và thức tỉnh rồi sẽ giúp đỡ chúng ta. Pháp Tạng tỳ kheo ở Tây phương Cực Lạc thế giới đã thành A Di Ðà Phật, ngài phát tâm giúp đỡ chúng ta. Ngài nói chỉ cần chúng ta có đầy đủ chân tín và thiết nguyện (niềm tin chân thật và lời nguyện thiết tha). Chân tín và thiết nguyện tức là ‘Bồ Ðề Tâm’, cộng thêm ‘nhất hướng chuyên niệm’ tức là một phương hướng nhất định, một mục tiêu duy nhất là chuyên niệm A Di Ðà Phật, thì sự giúp đỡ này [của A Di Ðà Phật] sẽ thành công ngay. Cho nên câu Phật hiệu này từ tâm chúng ta sanh ra rồi từ miệng niệm ra tiếng. Dùng danh từ của khoa học ngày nay thì gọi là ‘ba động’ (làn sóng).

Quý vị xem, viện nghiên cứu của tiến sĩ Giang Bổn Thắng ở Nhật Bản là viện nghiên cứu về các làn sóng. Tâm chúng ta khởi lên một niệm, đây là làn sóng của tâm. Làn sóng của tâm này có vận tốc nhanh nhất so với tất cả mọi vật khác. Tâm vừa mới khởi lên một niệm thì làn sóng này tức khắc truyền ra khắp hư không pháp giới, lập tức lan khắp, còn nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Vận tốc ánh sáng là 300.000 km trong một giây đồng hồ. Ánh sáng từ trái đất đi đến mặt trời phải mất hơn 8 phút; khoảng cách này [như vậy cũng] không xa lắm. Nhưng khi tâm niệm của chúng ta vừa khởi lên, làn sóng này liền tức khắc lan rộng ra khắp hư không pháp giới, không gì có vận tốc này nhanh hơn vận tốc này. Chư Phật dạy rằng khi chúng ta khởi tâm để niệm A Di Ðà Phật, đức Phật A Di Ðà ở Tây phương Cực Lạc thế giới lập tức liền nhận được làn sóng này; chúng ta có thể ‘liên lạc và nói chuyện’ với đức Phật nhanh như vậy!

Khi đức Phật A Di Ðà nhận được làn sóng này, ngài cũng có hồi âm nhưng chúng ta không nhận biết được. Tại sao chúng ta không biết được? Bộ máy của chúng ta hiện nay quá cũ, quá tệ, không còn linh hoạt và mẫn tiệp như ngài nữa; làn sóng cực kỳ nhỏ ngài cũng có thể thâu nhận được. Bộ máy của chúng ta tại sao không còn linh hoạt được nữa? Phật nói tại vì chúng ta có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước làm cho căn tánh của chúng ta bị chướng ngại mất, căn tánh của lục căn có ba thứ chướng ngại to lớn này, vì thế cho nên chúng ta không thể nhận được hồi âm của chư Phật.

Ðến khi nào thì chúng ta mới có thể thâu nhận được? Phải tu định. Khi bạn có định công (khả năng định tâm) thâm sâu. Ðịnh công ở đây nghĩa là bạn có thể buông xả tất cả vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước. Khi vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước giảm đi thì tác dụng của sáu căn sẽ dần dần linh hoạt trở lại. Khi đó bạn sẽ nhận được hồi âm của A Di Ðà Phật, bạn có thể thấy Phật, bạn có thể nghe thấy tiếng Phật thuyết pháp, bạn có thể ngửi được hương thơm của Cực Lạc thế giới, bạn có thể cảm được gió mát hoà nhã của Cực Lạc thế giới. Cực Lạc thế giới cách chúng ta rất xa.

Hòa thượng Tịnh Không

Nguồn:Hội những người đơn giản là có một niềm tin bất diệt vào Phật Pháp

Những cái làm thay đổi cuộc đời

1.Biết quên đi bất hạnh của chính mình, sống có ý nghĩa và lạc quan hơn. Người chỉ biết ôm khư khư nỗi đau của riêng mình mà quên đi nỗi đau của đồng loại chỉ là người ích kỷ và tự ty. Chẳng có lợi lạc gì khi chỉ biết sống dằn vặt với nỗi đau quá khứ, nên biết lật qua trang sách mới cuộc đời, mở ra một chương mới và khép lại một chương đã từng là bất hạnh và đau buồn. Người chỉ ngấu nghiến đọc trang nhật ký đau buồn đã trôi qua mấy chục năm thì không bao giờ biết được những trang nhật ký tiếp theo của cuộc đời mình sẽ huy hoàng và rực rỡ như thế nào.
2.Biết tha thứ cho bản thân mình và người khác. Đã sinh ra làm người thì ai cũng phạm lỗi lầm dù ít hay nhiều, nếu biết quên đi những lỗi lầm của chính mình và của người khác thì sẽ thấy nhẹ nhõm hơn. Nên nhìn vào những mặt tích cực của người khác để tha thứ, người chỉ thấy toàn khuyết điểm xấu của người khác sẽ không bao giờ biết tha thứ là gì.
3.Sống hòa đồng với người khác: mỗi người đều có cá tính riêng, 9 người 10 ý, nếu biết dung hòa và đi tìm mẫu số chung của 9 người này hay của tập thể thì mình sẽ không tự cô lập bản thân mình như Robinson trên đảo hoang, muốn la hét chạy nhảy, vui sướng hay đau buồn gì chỉ có mình mình biết, mình mình hay, rồi từ đó quy kết cuộc đời mình sao quá bất hạnh, quá khổ đau, sao không ai hiểu cho mình và tự so sánh thừa nhận nỗi bất hạnh của đời mình lớn hơn tất cả nỗi bất hạnh của người khác cộng lại. Điều này sẽ giúp tránh đi được 1 cái khổ mà đức Phật gọi là Cầu Bất Đắc là khổ.
4.Biết thay đổi những thói quen xấu có hại cho mình và người khác như hút thuốc, uống rượu, ăn quá nhiều, xì-ke, ma túy….sống có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình hơn, để tránh làm người khác đau buồn vì mình.
5.Đừng làm việc quá nhiều, tham công tiếc việc, việc gì cũng ôm đồm vào mình, làm việc gì cũng muốn toàn thiện, toàn mỹ, toàn hảo, nên biết phân công công việc cho kẻ khác làm cùng. Người ta dù làm sai, hiệu quả công việc tuy sẽ không đạt 100% năng suất nhưng ta sẽ hưởng được những phút giây thanh thản và lại tạo cơ hội cho người khác được học hỏi từ những sai lầm đó. Hoàn hảo để làm gì khi ta đánh đổi những phút lo âu căng thẳng, những viên thuốc paracetamol và sự suy nhược thần kinh của chính chúng ta.
6.Biết cảm ơn cuộc đời này, biết ơn cha mẹ công ơn dưỡng dục sinh thành, biết ơn người khác đã giúp đỡ cho chúng ta. Luôn luôn nói Cám Ơn và ban tặng nụ cười cho người khác. Hãy quí trọng cuộc sống này vì chúng ta sinh ra đã được làm một con người, dù xấu xí, tàn tật, ngoại hình không như ý muốn, nhưng cái phước báu và giá trị của con người khác loài vật ở chỗ không nằm ở ngoại hình mà ở trong Tâm.

Nguồn: Niệm Phật Vãng Sanh Tây Phương Cực Lạc.

Mười điều tâm niệm

Đức Phật dạy :

- Thứ nhất, nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sinh.

- Thứ hai, ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy.

- Thứ ba, cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

- Thứ tư, xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

- Thứ năm, việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường, kiêu ngạo.

- Thứ sáu, giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

- Thứ bảy, với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

- Thứ tám, thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân mà có ý mưu đồ.

- Thứ chín, thấy lợi thì đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.

- Thứ mười, oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

Bởi vậy Đức Phật dạy:

- Lấy bệnh khổ làm thuốc thần,

- Lấy hoạn nạn làm giải thoát

- Lấy khúc mắc làm thú vị

- Lấy ma quân làm bạn đạo

- Lấy khó khăn làm thích thú

- Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ

- Lấy người chống đối làm nơi giao du,

- Coi thi ân như đôi dép bỏ,

- Lấy sự xả lợi làm vinh hoa

- Lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.

Nam Mô A Di Đà Phật

Nguồn:Hội những người đơn giản là có một niềm tin bất diệt vào Phật Pháp

 

Giàu sang học đạo là khó

Ở thế gian này, nhiều người giàu có, sung mãn, đầy đủ vật chất thì ít bao giờ nghĩ đến việc tu học, tín tâm Tam bảo và tin sâu nhân quả. Họ đam mê, dính mắc vào những tài sản, vật chất như đất đai, ruộng vườn, nhà cao cửa rộng, xe hơi và tiền bạc. Chính sự giàu có về sở hữu vật chất quá đáng đã làm cho họ bị trói buộc trong tham ái và lo sợ mất mát. Họ cho rằng vật chất là mục đích tối hậu của cuộc sống, nên suốt ngày họ đua đòi, bon chen, chạy theo tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, mặc đẹp, ngủ nhiều. Tại sao giàu có học đạo khó? Người giàu có luôn bận rộn trong việc kiếm tiền nên niềm đam mê của họ giống như chất keo dán sắt dính vào khó gỡ ra. Họ mải mê lo làm giàu, bận rộn trong đời sống đua chen, giành giật và sợ bị mất mát, hao hụt nên càng bám víu vào đó để giữ gìn. Trong kinh Phật dạy, quả báo của những kẻ giàu sang nhờ biết bố thí nhưng không chịu tu học hạnh giác ngộ, giải thoát, nên không có trí huệ; sau khi thân hoại, mạng chung sẽ có thể tái sinh làm voi, ngựa quý cho nhà vua. Hai loài đó sẽ được trang sức lộng lẫy để chở nhà vua và hoàng hậu đi đây đó ngắm cảnh, xem hoa, vui thú cảnh sông hồ, thiên nhiên đẹp đẽ. Chính vì thế, giàu sang mà biết buông xả để học đạo giải thoát quả là một điều rất khó. Cho nên, giàu sang mà biết học đạo được liệt vào hàng thứ hai, đối lập với nghèo khổ mà biết bố thí.

Quá giàu và quá nghèo mà làm được việc ân nghĩa là điều hy hữu, hiếm có xưa nay, nhưng không phải là không có. Những tấm lòng vàng, những nhà hảo tâm, triệu phú, tỷ phú, họ đã từng đóng góp đáng kể vào các dịch vụ từ thiện, xây dựng, mở mang cầu đường, chùa to Phật lớn… đều do những người giàu có nhất phát tâm ủng hộ. Và quan trọng hơn hết, ngoài việc bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia, họ còn biết buông xả những tâm tư chấp trước, dính mắc, mê muội, nên cuộc sống của họ lúc nào cũng bình yên, hạnh phúc; cũng như vua Tần Bà Sa La, trưởng giả Cấp Cô Độc khi Phật còn tại thế, họ vừa phát tâm bố thí, cúng dường và vừa phát tâm học đạo giải thoát, nên ngày hôm nay chúng ta biết được những tấm gương sáng ngời có cả hai mặt phước báo và trí tuệ. Có phước báo nên giúp được nhiều người, có trí tuệ nên không tham đắm, dính mắc vào bất cứ một thứ tài sản sở hữu nào, do đó tâm an nhiên, tự tại mà không bị phiền não tham-sân-si chi phối. Để nói lên giá trị của người giàu có nhưng vẫn thiết tha học đạo, chúng tôi sẽ kể cho quý vị nghe một câu chuyện.

Thời đức Phật còn tại thế, có một trưởng giả tên là Tu-Đạt, nhà giàu nhất nước Kiều-Tát-la do vua Ba-Tư-Nặc trị vì. Một hôm, sau chuyến buôn hàng sang nước Ma-kiệt-đà của vua Tần Bà Sa La, mua bán xong ông trở về nhà người anh rể của mình để nghỉ ngơi. Thường lệ, khi ông về tới, mọi người trong nhà đều ra trước ngõ đón tiếp ân cần, niềm nở, nhưng hôm nay ông thấy không ai quan tâm, để ý đến ông cả. Thật lạ lùng! Ông lấy làm ngạc nhiên mới hỏi người anh rể và biết cả nhà đang bận rộn việc chuẩn bị đồ ăn, thức uống để cúng dường 1250 vị Tỳ-kheo trong Tăng đoàn của đức Phật. Lần đầu tiên nghe đến đức Phật, Tu-Đạt thắc mắc với người anh rể “Phật là gì mà mọi người phải cung kính, tôn trọng?” Người anh rể nói, “Đức Phật trước đây là Thái tử Tất-Đạt-Đa, con vua Tịnh-Phạn và Hoàng hậu Ma-Da, ông là người được kế thừa ngôi vua nhưng dám từ bỏ ngôi vị, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, thần dân thiên hạ để xuất gia tu hành, nay đã thành Phật. Tu-Đạt nghe qua bỗng cảm thấy trong lòng an ổn lạ thường nên muốn gặp đức Phật liền tức khắc, nhưng lúc này trời đã tối nên đành chờ lại sáng mai. Vì khao khát và mong muốn được gặp đức Phật nên suốt cả đêm ông không sao ngủ được. Tờ mờ sáng hôm sau, ông đã có mặt tại Tịnh xá Trúc Lâm, nơi đức Phật đang tịnh dưỡng. Vừa mới tới, ông nghe một giọng nói trầm hùng “này Tu-Đà Cấp Cô Độc, ta là người mà ông cần gặp đây”. Tu Đạt rất đỗi ngạc nhiên, “tại sao cái tên Tu-Đà của ta chỉ có người trong gia tộc mới biết và không ai được gọi, thế mà ở đây lại có người biết và gọi mình như vậy?” Tu Đạt nghĩ rằng, “hay là ở đây có người bậc trên của gia tộc mình?” Trong lúc còn đang ngớ ngẩn, ông thấy một người tướng mạo trang nghiêm, điềm đạm đi tới. Bất giác, Tu-Đạt liền quỳ xuống đảnh lễ đức Phật, trong lòng cảm thấy thoải mái và an lạc vô cùng. Và ngay lúc đó, ông được đức Phật khai thị pháp môn căn bản cho người tại gia. Nghe xong bài pháp, Tu-Đà Cấp Cô Độc chứng quả Tu-đà-hoàn, nghĩa là được vào dòng Thánh, không còn bị đọa lạc trong ba đường dữ: địa ngục, súc sanh và ngạ quỷ. Sau đó, ông phát nguyện quy y Tam Bảo, gìn giữ năm điều đạo đức và phát tâm cúng dường, hộ trì Tam Bảo, suốt đời giúp đỡ người bất hạnh, nghèo khó. Nhờ tín tâm thuần thục, ông xin Phật cho xây dựng một Tịnh xá lớn để chư Tăng có chỗ giáo hoá và tu hành. Đức Phật chấp nhận lời thỉnh cầu của ông.

Cấp Cô Độc có nghĩa là cung cấp sự cần thiết cho người cô độc, côi cút, không nhà cửa, không người nuôi dưỡng, nghèo khổ. Trong đời, ông vốn cũng đã có lòng nhân từ, thường giúp đỡ mọi người không phân biệt thân, sơ. Đến khi gặp Phật, ông càng mở rộng tấm lòng bao la, rộng lớn hơn. Từ đó, ông trở về nước để tìm mua một khu đất rộng rãi, địa điểm thuận lợi, nhằm xây dựng một Tịnh xá lớn cho chư Tăng tu học, giáo hoá và hành trì. Ông tìm mãi mà không thấy nơi nào có miếng đất vừa ý ngoài khu vườn của Thái tử Kỳ-Đà, con vua Ba-Tư-Nặc. Thái tử Kỳ-Đà giàu có nên đâu cần bán đất để làm gì, nhưng vì quá ưa thích, ông bạo gan đến hỏi mua. Thái tử Kỳ-Đà bảo rằng, “tôi sẵn sàng bán khu vườn cho ông với một điều kiện duy nhất, ông phải trải vàng lót đầy đất”. Nghe Thái tử nói thế, Cấp Cô Độc mừng quá nên đồng ý liền và cho người nhà chở vàng đến lót gần kín khu vườn, chỉ còn một khoảnh nữa là xong. Cấp Cô Độc đang suy nghĩ nên lấy số vàng trong kho nào để lót cho đủ, Thái tử Kỳ-Đà đến hỏi “bộ ông tiếc của hay sao mà đứng ngẫn người ra như thế?” Cấp Cô Độc trả lời “thưa Thái tử, không phải thế đâu! Tôi đang tính xem phải xây dựng Tịnh xá như thế nào để chứa đủ chư Tăng và Phật tử các nơi về đây nghe pháp và tu tập”. Nghe vậy, Thái tử Kỳ-Đà cảm phục tấm lòng cao cả của ông đối với đức Phật và Tăng đoàn, Thái tử tuyên bố “kể từ giờ phút này, ông khỏi cần lót vàng nữa, đất khu vườn này thuộc về ông, còn rừng cây trong vườn tôi xin hoan hỷ cúng dường cho đức Phật”.

Ngày nay, đọc các bản kinh chúng ta thường thấy, “tôi nghe như vầy, một thời Đức Phật ở rừng cây Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc…”, đây chính là Tịnh xá trong khu vườn do Cấp Cô Độc và Thái tử Kỳ-Đà cùng dâng cúng. Đặc biệt, trong 49 năm thuyết pháp độ sinh, đức Phật đã ở tại Tịnh xá này suốt 25 mùa An Cư Kiết Hạ.

Trưởng giả Cấp Cô Độc sau khi gặp đức Phật đã luôn hết lòng tôn kính cúng dường Tam Bảo và giúp đỡ người cô độc, bần cùng với lòng thành kính của mình. Suốt mấy chục năm thực hành bố thí, cúng dường, tài sản nhà ông cuối cùng cũng cạn kiệt do bị lũ lụt cuốn trôi. Gia tài, sự nghiệp đã tan tành theo mây khói, cho đến khi cả nhà ông phải dùng cháo thay cơm mỗi bữa, nhưng ông vẫn một lòng tín tâm, chia bớt phần ăn của mình để cúng dường chư Tăng. Nhờ phước đức bố thí, cúng dường quá lớn lao cùng với lòng thành kính của ông trong quá khứ và hiện tại, chẳng bao lâu sau, gia đình ông làm ăn được khấm khá trở lại, và ông vẫn tiếp tục thực hành bố thí, cúng dường như trước đây mà không phân biệt thân, sơ.

Đạo lý nhân quả nhà Phật giúp ta sáng ngời tình nhân loại trong hạt giống từ bi của hạnh bố thí, sẻ chia. Qua đó, chúng ta thấy hành động bố thí quan trọng ở tâm chân thành và lòng tôn kính như trường hợp của ông Cấp Cô Độc một lòng gieo duyên với ruộng phước lớn. Ông đã chứng quả “bất thoái chuyển” ngay trong hạnh này. Chúng ta nên nhớ rằng, phát tâm bố thí, cúng dường như gởi tiền vào ngân hàng, tuy không thấy có tiền nhưng khi cần xài liền rút ra. Cấp Cô Độc phát tâm cúng dường Tam Bảo không biết mệt mỏi, nhàm chán, ông còn giúp đỡ những người cô độc, nghèo khó không nơi nương tựa. Vì vậy, ông được quần chúng nhân dân tặng cho danh hiệu là Cấp Cô Độc. Trong lịch sử Phật giáo, Cấp Cô Độc là tấm gương sáng về hạnh bố thí, cúng dường để chúng ta học hỏi, noi theo. Con người muốn hoàn thiện nhân cách, lối sống, đạo đức … phải có sự học hiểu và tu tập, hành trì. Người có đủ niềm tin Tam bảo được chứng quả bất thối chuyển thì dù có gặp nghịch cảnh, khó khăn như thế nào, họ cũng giữ vững tấm lòng tốt của mình.

Bố thí, cúng dường là con đường dẫn đến tình yêu thương nhân loại bằng tình người trong cuộc sống, là cách thức xóa bỏ ân oán, hận thù để ta cùng ngồi lại bên nhau bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. Bố thí, cúng dường là nấc thang đầu tiên của hàng Bồ-tát để từng bước tiến lên con đường Phật đạo. Nhờ bố thí, cúng dường mà tâm ta được an lạc, thảnh thơi, thấy ai cũng là người thân thương của mình, không còn thấy ai là kẻ thù, nên mọi người dễ dàng thương yêu và đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau hơn. Phật dạy, người biết gieo trồng phước đức thì trong hiện tại và tương lai được đầy đủ, giàu sang, như ta có tiền gửi ngân hàng rút dần ra xài; còn người không biết gieo trồng phước đức thì như người có đồng nào xài đồng nấy, luôn phải chịu nghèo khó, vất vả cả đời mà chẳng có của dư. Cấp Cô Độc là người giàu có, ngoài việc biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia, ông còn là tấm gương sáng trong việc tu học và còn hướng dẫn toàn thể gia tộc tin sâu nhân quả và tín tâm Tam bảo. Nhờ vậy, trước khi mạng chung, ông được Tôn giả Xá Lợi Phật và Tôn giả A Nan đến khai thị và sau đó an nhiên, tự tại ra đi mà được sinh về cõi trời.

Chúng ta bây giờ là người xuất gia lúc nào cũng khuyên nhủ mọi người buông xả, nhưng ngược lại ta lại tham đắm, chất chứa, nên một số người sống tèn tèn, chẳng làm gì lợi ích cho ai mà vẫn thọ dụng của đàn na tín thí. Nhiều người giàu có sẵn sàng bỏ ra hàng trăm tỉ để cúng dường Tam bảo, xây chùa to, Phật lớn nhằm tạo thêm lòng tin cho mọi người biết. Sự cao quý và giá trị thiết thực của đạo Phật được xây dựng trên nền tảng nhân quả, nên giàu có mà biết bố thí, cúng dường và khiêm tốn thấp mình học đạo là gương sáng chỉ có các vị đại Bồ tát mới có thể làm được. Chúng ta phải biết trân trọng và tôn kính. Do đó, Phật dạy giàu có mà biết bố thí, cúng dường là điều khó.

Nguồn:Nhất Tâm Kính Phật

Lắng nghe lời Phật thoát mọi phiền hà

” Thế tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều lạc pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều bất thiện pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều thiện pháp cho chúng ta.”

Những thổ lộ trên là cảm niệm của Tỳ -kheo Udàyi về ân đức ban bố giới luật của Đức Phật, sau khi tự thân đã trải qua nhiều chuyện phiền toái do lối sống thiếu tiết độ. Tự thân có nếm trải và nhận ra bao chuyện rắc rối do tính tùy tiện trong sinh hoạt và ứng xử hằng ngày tạo ra thì mới cãm nhận được tinh thương và sự ân cần chu đáo cùa bậc Đạo sư, được thể hiện qua chế độ giáo dục khá khắt khe của Ngài, nhất là việc Ngài quan tâm uốn nắn từng li từng tí các thói quen sinh hoạt hằng ngày cho các đệ tử. Phật ban hành giới luật, quy định nếp sống kỷ cương tiết độ cho người xuất gia, không gì khác hơn để mang lại tự do và an lạc cho các học trò mình.

Trong phương pháp huấn luyện đệ tử, Đức Phật chú ý thiết lập giới luật cho hàng xuất gia, thực sự để giúp cho cá nhân các Tỳ- Kheo thực hành đúng đạo lý giải thoát, nghĩa là thực hiện nếp sống có kỷ cương tiết độ, thuận tiện cho việc tu tập thân tâm đạt đến an lạc giải thoát, giữ gìn các hành vi của thân, lời và ý theo đúng Bát Chánh Đạo. Căn bản của giới luật nhà Phật là thực hánh ” thiếu dục tri túc ” nhằm ngăn ngừa và khắc phục các hành vi sai trái hoặc các thói quen xấu gây trở ngại cho sự tu tiến của bản thân, tránh gây phiền hà cho người khác hay cho đời sống tập thể. Các hành vi sai trái hay các thói quen tiêu cực của con ngưởi có nguồn gốc từ lòng tham dục.Ví dụ, do chiều chuộng các ham muốn giác quan hay các đòi hỏi của cơ thể mà con người ham ăn ham ngũ ; do kich thích cảm giác được ca tụng tâng bốc mà con người đua đòi chưng diện…

Thấy rõ hậu quả phiền toái tiềm ẩn trong các thói quen như vậy, Đức Phật chú ý tập cho các đệ tử mình một lối sống giúp cho họ tự khắc phục và loại trừ những ham muốn tiêu cực, Ngài huấn luyện các học trò mình rất kỹ, quy định đến cả việc ăn mặc có chừng mực. Lẽ tất nhiên, người biết kềm chế bản thân, sống với hạnh thiếu dục tri túc thì khong6n có nhiều yêu cầu, không đua đòi, ít lăng xăng bận rộn, không bị các ham muốn ràng buộc, luôn luôn thanh thản và cảm nhận tự do. Phật gọi lối sống kỷ cương tiết độ như vậy là Pàtimokkha, có nghĩa là thoát khỏi cái phiền toái khổ não do hành vi sai trái hay thói quen ham muốn tiêu cực gây nên. Pàtimokkha cũng có nghĩa là ” biệt giải thoát “, ngụ ý rằng khắc phục được một ham muốn thì con người sẽ có được một sự giải thoát hay tự do, vì không còn ham muốn đó chi phối khiến các hành vi sai trái đưa đến hậu quả khổ đau. Giới luật nhà Phật là thực hiện lối sống an lạc, có công năng loại trừ các phiền não khổ đau, và đem lại cho con người sự tự do, thanh thản.

Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta gặp nhiều chuyện phiền toái mà xét cho cùng thì đếu do thói quen ham muốn tạo ra. Chỉ một việc ăn uống không thôi cũng mang đến cho ta lắm chuyện phiền hà nếu ta khong6t kiểm soát được sở thích của mình.Ăn uống vốn là việc khá giản dị trong đời sống hằng ngày, ngày nay đã trở thành mối bận tâm đối với nhiều người vì nhiều lý do chủ quan lẫn khách quan.Thói quen hưởng thụ khiến người tiêu dùng ngày nay cảm thấy băn khoăn khi phải đối diện với thực trạng thực phẩm thiếu vệ sinh và không an toàn cứ tiếp tục chi phối và chiếm lĩnh thị trường bởi những nhà kinh doanh khao khát lợi nhuận, ” Cái này sinh thì cái kia sinh “, tập quán hưởng thụ đã kích thích thói quen gian dối.

Với kinh nghiệm của bậc Giác Ngộ, Đức Phật nêu rõ cuộc sống chỉ là chuỗi hành vi có tính cách thói quen mà nếu được uốn nắn đều trở thành đừng đắn, giản dị và thanh thoát. Từ chuyện ăn chuyện mặc cho đến suy nghĩ, nói năng hay hành động, tất cả đều là thói quen để có thể được uốn nắn điều chỉnh theo chiều hướng tốt đẹp.Đã chiến thắng mọi ham muốn, Đức Phật cũng tập cho đệ tử của mình có thói quen sống cho chừng mực và hành xử đứng đắn. Ngài đánh giá cao ý chí tự điều chỉnh của mỗi cá nhân, cho rằng ai cũng có khả năng khắc phục ham muốn tiêu cực của bản thân để được thanh thản tự do, dễ nuôi sống, ít lăng xăng bận rộn, không phạm sai lầm, sống với tâm tư hồn nhiên hoam hỷ, Nhờ sống chừng mực và điều độ, bỏ được thói quen không ăn đêm, mà Đức Phật cảm thấy ít bệnh, ít não,khinh an,có sức khỏe tốt và sống an lạc ;do đó, Ngài khuyên các đệ tử tập sống có tiết độ để thực nghiệm lợi lạc:

” Này các Tỳ -kheo, Ta ăn, từ bỏ ban đêm, Này các Tỳ -kheo, do từ bỏ ăn ban đêm, Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú, Này các Tỳ-kheo, do từ bỏ ăn ban đêm, các Thầy sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khing an, có sức lực và an trú

Đây là lợi ích thiết thực mà chính Đức Phật đã trải nghiệm nhờ điều phục các ham muốn của bản thân, Phật là người đã tu tập, đã thực nghiệm nếp sống giải thoát an lạc và mong muốn chia sẽ kinh nghiệm cho người khác. Vì thế mà lời Phật là lẽ sống thực tiễn là ” thiết thực hiện tại”, đền để mà thấy ” được người có tri tự mình giác hiểu “. Thế nên, người nào biết lắng nghe và thực hành theo lời Phật thì nhất định sẽ cảm nghiệm được tự do và lợi lạc. Tâm sự của Tỳ -kheo Udàyi sau đây nói cho chúng ta biết lời Phật là bài học thực tiễn mà chúng ta ai biết lắng nghe và nỗ lực thực tập thì sẽ tránh được nhiều rắc rối phiền hà phát sinh bởi thói quen trong sinh hoạt hàng ngày:

“Bạch Thế Tôn, trong khi con đang độc cư Thiền Tịnh, sự suy tư sau đây đã khởi lên trong tâm trí con: “Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho chúng ta.Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều lạc pháp cho chúng ta “

Bạch Thế Tôn, thuở trước, chúng con thường ăn buổi chiều, buổi sáng, ban ngày và phi thời. Bạch Thế Tôn,thời ấy Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo vào bảo:”này các Ty-kheo. Hãy từ bỏ ăn ban ngày phi thời ” Bạch Thế Tôn,giữa chúng con, những ai nhìn Thế Tôn với lòng ái mộ, với lòng tôn kính và với lòng tâm quý, liền từ bỏ ăn ban ngày phi thời.

Rồi bạch Thế Tôn, chúng con thường ăn buổi chiều và buổi sáng, Bạch Thế Tôn, thời ấy Thế tôn gọi các Tỳ-kheo vào và bảo:”Này các Tỳ -kheo, hãy từ bỏ ăn ban đêm phi thời “…Bạch Thế Tôn, giữa chúng con, những ai nhìn thế Tôn với lòng ái mộ, với lòng tôn kính và với lòng tâm quý, kiền từ bỏ ăn ban đêm phi thời.

Thuở trước, bạch Thế Tôn, các vị Tỳ-kheo thường đi khất thực trong đêm đen tối tăm.Họ bước lầm vào vũng nước nhớp, rơi vào vũng nước nhớp, đi lầm vào hàng rào gai, đi lầm vào chỗ con bò cái đang ngủ, gặp các loại đạo tặc đã hành sự, gặp các người đàn bà mời mọc một cách bất chánh. Thuở trước, bạch Thế Tôn, con đi khất thực trong đêm đen tối tăm. Một người đàn bà đang rửa chén bát, thấy con trong khi trời chớp nhoáng liền hoảng sợ và hét lớn:”Ôi kinh khủng thay cho tôi,có con quỷ chaỵ theo tôi “Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy con có nói với người đàn bà ấy:”này chị, không phải quỷ đâu, đây là Tý –kheo đang đứng khất thực “Cha Tỳ -kheo hãy chết đi!! Mẹ Tỳ-kheo hãy chết đi ! Này Tỳ -kheo, thật tốt hơn cho ông nếu ông lấy con dao sắc bén của người đồ tể cắt bụng của ông, còn hơn là vì lỗ bụng đi khất thực trong ban đêm tối tăm.”

Bạch Thế Tôn, khi con nhớ như vậy, con suy nghĩ như sau: ” Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho chúng ta , Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều lạc pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều bất thiện pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều thiện pháp cho chúng ta.”

Nguồn:Nhất Tâm Kính Phật

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.